Bảng quảng cáo
Tỉ giá ngoại tệ
1 đơn vị VNĐ

Dự báo thời tiết
Địa điểm Nhiệt độ

Thống kê Websites

Các thành viên : 16
Content : 95
Liên kết web : 5
Số lần xem bài viết : 519342

Ai đang trực tuyến

Hiện có 2 khách Trực tuyến

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay49
mod_vvisit_counterHôm qua982
mod_vvisit_counterTuần này3818
mod_vvisit_counterTháng này8505
Tài liệu tham khảo
CHẾ ĐỘ ĂN CHO NGƯỜI SUY THẬN

suythanTrước khi được lọc máu, người bị suy thận phải theo chế độ ăn giới hạn về muối và chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, gà, vịt…).

Thận nhân tạo giúp loại bỏ khỏi cơ thể các chất dư thừa do ăn uống đưa vào. Tuy nhiên, chức năng của nó không thể hoàn hảo như thận bình thường, nên chế độ ăn của bệnh nhân lọc thận có thể thay đổi hơn so với trước khi lọc thận, nhưng không được ăn uống như bình thường.

Nước và trọng lượng cơ thể

Suốt trong thời gian dài bị suy thận và trước khi được chạy thận nhân tạo, người bệnh phải ốm đi, vì nếu cân nặng không giảm nghĩa là đã có sự ứ đọng muối và nước trong cơ thể. Có nhiều bệnh nhân phải mất đi hơn 10kg trong một thời gian ngắn chạy thận nhân tạo do khối lượng nước và muối dư thừa đã được rút bỏ, và nhờ vậy nhiều trường hợp huyết áp cao sẽ mất đi mà không cần dùng thuốc.

Người bệnh phải theo dõi cân nặng mỗi ngày vào một giờ cố định với trang phục giống nhau và dùng cùng một cân. Không được tăng cân hơn 0,5kg/ngày. Nếu cân nặng tăng quá nhiều, nghĩa là đã dùng quá nhiều nước, muối. Khi đó bắt buộc phải giới hạn lượng nước uống và kiểm tra chế độ dinh dưỡng.

Cảm giác khát nước tùy thuộc rất nhiều vào số lượng muối ăn. Do đó, nếu giảm được muối trong thức ăn, số lượng nước đưa vào cơ thể sẽ tự động giảm đi vì bệnh nhân ít cảm thấy khát nước hơn.

Theo nguyên tắc, bệnh nhân lọc thận có thể dùng tổng cộng khoảng 500ml/ngày (nước, cà phê, cháo, súp, canh...) và có thể gia tăng thêm một lượng bằng với lượng nước tiểu còn lại, tức là:

Lượng nước uống/ngày (tính cả lượng nước có trong thức ăn) = 500ml + lượng nước tiểu.

Thí dụ: Nếu người bệnh đi tiểu 200ml/ngày thì có thể dùng tổng cộng 700ml nước/ngày.

Cần giới hạn nước uống vì trong tất cả các loại thức ăn cũng đều có nước, nhất là trái cây và rau.

Sự theo dõi cân nặng là yếu tố cơ bản và chính yếu. Sau các tuần lễ đầu chạy thận nhân tạo, nếu chế độ dinh dưỡng được tuân thủ nghiêm ngặt, người bệnh có thể dần dần lên cân thật sự nhưng huyết áp không tăng. Tuy nhiên, cân nặng ổn định với thể trạng khỏe mạnh bình thường chỉ có được sau 6 tháng đến 1 năm chạy thận nhân tạo.

Muối

Bình thường cơ thể hấp thu khoảng 8-12g muối mỗi ngày, phần lớn số muối này sẽ được thải bỏ qua đường tiểu vì không cần thiết cho cơ thể. Khi cả hai thận đều bị suy, muối sẽ không được loại bỏ mà ứ lại trong cơ thể; lúc đó phù, cao huyết áp sẽ xuất hiện, gây suy tim, ứ nước trong phổi và tổn thương các mạch máu. Vì vậy phải giới hạn muối tối đa để tránh cao huyết áp. Khi nào huyết áp chưa bình thường tức là cơ thể còn chứa quá nhiều muối.

Thận nhân tạo có thể loại bỏ bớt muối với điều kiện lượng muối ăn vào không quá nhiều. Khi huyết áp trở lại bình thường, bệnh nhân có thể dùng thêm một ít muối nhưng phải rất cẩn thận, càng cữ được càng tốt.

Bệnh nhân không được tăng cân quá 0,5kg/ngày và huyết áp trước khi chạy thận nhân tạo không được quá 160/90mmHg.

Nếu tăng cân quá nhiều hoặc huyết áp trước khi chạy thận quá cao, cần kiểm tra xem có phải đã dùng quá nhiều muối hay không (sự tăng cân quá nhiều thường là do dùng muối quá nhiều). Khi tăng cân nhiều, cần phải rút nhiều nước trong lúc chạy thận, điều này không dễ dàng và thường gây nhiều tai biến và biến chứng.

Chế độ kiêng muối không những bắt buộc không được cho thêm muối vào thức ăn mà còn phải kiêng cả các loại thức ăn có chứa nhiều muối như khô, mắm, tương, chao...

Chất kali

Chất kali bị ứ đọng lại trong cơ thể khi bị suy thận, kali trong máu trên 6,5mmol/l sẽ cực kỳ nguy hiểm vì có thể làm tim loạn nhịp và đưa tới ngừng tim đột ngột, gây tử vong bất cứ lúc nào mà không có triệu chứng báo trước. Vì vậy, bệnh nhân suy thận cần tránh các thức ăn chứa nhiều kali như trái cây, nhất là cam, chuối, nho, đào, chanh, bưởi, dâu... Một số loại trái cây chứa ít kali hơn như táo, lê, dưa hấu... Các loại trái, hạt khô như đậu phộng, hạt điều, hạt dẻ, sô-cô-la, cà phê chứa kali nhiều hơn chuối đến 10 lần.

Các loại rau tươi cũng có nhiều kali nhưng có thể dùng được sau khi đun nấu 2-3 lần và bỏ nước đã luộc rau. Gạo, nui, mì... chứa ít kali.

Để làm giảm phần nào lượng kali trong máu, có thể dùng thêm 5-15g/ngày Keyexalate. Thuốc gây táo bón hiện thời giá trên thị trường còn khá cao.

Chất đạm

Đạm là chất cấu tạo chính của bắp thịt, là chất không thể thiếu cho đời sống của các tế bào trong cơ thể. Nhưng sử dụng các chất này sẽ sinh ra urê và urê bị tích tụ lại trong cơ thể khi bị suy thận. Vì vậy, trước khi lọc thận, người bệnh phải theo chế độ ăn giảm đạm; Nhưng khi đã được chạy thận thì thận nhân tạo thải được urê khỏi cơ thể, nên người bệnh có thể và bắt buộc phải ăn vào một lượng đạm như người bình thường.

Trong khẩu phần ăn cần phải có thịt, gà, cá, trứng (lòng trắng) vì các loại này chứa đạm có chất lượng cao, giúp bù đắp cho hoạt động thường ngày của hệ cơ. Ngoài đạm động vật, cũng có thể dùng đạm có nguồn gốc thực vật như đậu nành, đậu xanh..., nhưng cần cẩn thận vì các loại đậu chứa khá nhiều kali.

Phosphore

Phosphore ít được lọc qua thận nhân tạo, phosphore có trong hầu hết các loại thức ăn, nhất là các loại có chứa nhiều chất đạm, đặc biệt là sữa.

Khi phosphore trong máu tăng, sẽ làm tăng hoạt động tuyến cận giáp và cùng với calci bám đóng vào thành mạch máu.

Các thuốc ngăn cản sự hấp thu phosphore ở máu không đủ để kiểm soát tình trạng tăng phosphore máu, vì vậy cần giảm các loại thức ăn có chứa nhiều phosphore như sữa, pho-mát, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, các loại rau quả khô.

Năng lượng

Cần phải được cung cấp đầy đủ để sử dụng chất đạm. Bình thường cơ thể cần 35-40calo/kg/ngày, có thể được cung cấp dưới dạng đường hay dầu mỡ; đường có nhiều trong các loại thức ăn chế biến từ lúa và lúa mì như bánh mì, gạo, nui.

Sinh tố

Người bình thường với chế độ ăn đầy đủ không cần cung cấp thêm sinh tố. Tuy nhiên, người chạy thận sẽ bị mất đi một số sinh tố, nhất là các loại sinh tố tan trong nước như nhóm sinh tố B, C. Vì vậy có thể phải cung cấp thêm các sinh tố này.

Tóm lại, với bệnh nhân suy thận, không bắt buộc phải cấm tuyệt đối bất kỳ loại thức ăn nào, nhưng chỉ nên dùng với số lượng vừa phải và khẩu phần ăn hàng ngày phải quân bình đầy đủ đạm, năng lượng, sinh tố. Cần chú ý hạn chế các thức ăn chứa nhiều kali và phosphore.

                                                                           Tác giả : TS. BS. PHAN VĂN BÙI

(Trung tâm Đào tạo và Bồi dưỡng cán bộ y tế)

 

 
ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN SUY THẬN SUY THẬN MÃN BẰNG CHẾ ĐỘ ĂN GIẢM ĐẠM VÀ CUNG CẤP KETOA CIDS

 

Phạm Văn Bùi

Tạ Phương Dung

Nguyễn Thúy Quỳnh Mai

Huỳnh Thị Nguyễn Nghĩa

Nguyễn Ngọc Châu

Trung Tâm Thận Niệu Bệnh Viện Nhân Dân 115 – TP.HCM

 

 

I. ĐẶT VẤN ĐỀ.

 

          Nguyên tắc chính yếu trong điều trị bảo tồn suy thận mãn là chế độ ăn giảm Đạm cùng với điều trị nguyên nhân gây suy thận mãn cũng như một số thuốc điều trị  triệu chứng(1).

 

          Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh rằng có thể làm chậm sự tiến triển của suy thận mãn khi cung cấp lượng đạm giới hạn bằng chế độ ăn giảm đạm (LPD)(2_5) hay rất giảm đạm (VLPD)(6.7), cả hai chế độ ăn này đều được bổ túc thêm bằng các Acid amin chính yếu (EAA) hay Ketoacids (KA)(8_12).

 

Hầu hết các nghiên cứu hiện có đều so sánh sự tiến triển của suy thận mãn trước và sau điều trị bằng cách đánh giá sự thay đổi của creatinine máu (13).

 

          Mặc dù chưa có số liệu thống kê cụ thể, chính xác về tỷ lệ suy thận mãn tại TP. Hồ Chí Minh nhưng qua số lượng bệnh nhân ngày càng tăng đang được điều trị ại Trung Tâm Thận Niệu Bệnh Viện Nhân Dân 115, chúng tôi nhận thấy rằng su thận mãn ở nước ta có số lượng không nhỏ, nếu không phòng ngừa  hoặc phát hiện kịp thời để có chế độ điều trị thích hợp nằm làm chậm sự tiến triển của nó đến giai đoạn cuối cùng thì sự điều trị thay thế (bằng chạy thận nhân tạo hoặc ghép thận) quả là một gánh nặng kinh tế không những riêng ch  bệnh nhân mà còn cho cả xã hội.

 

          Qua tham khảo y văn và cùng với các tác giả khác, chúng tôi thực hiện nghiên cứu ảnh hưởng của VLPD được bổ túc thêm bằng KA trên sự tiến triển của suy thận mãn.

 

II. TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

           

          21 bệnh nhân ngoại trú (19 nam và 11 nữ) bị suy thận mãn do các nguyên nhân khác nhau có tuổi trung bình là 53.5 (22 – 73 tuổi) với creatinine máu trung bình là 7.72 ±4.8mg%, độ thanh thải creatinine trung bình là 13.7 ± 5.3ml/1’ được đưa vào lô nghiên cứu tiền cứu ảnh hưởng của VLPD + KA trên sự tiến triển của chức năng thận.

 

          Trước khi nghiên cứu, tất cả các bệnh nhân đều được đo creatinine máu, độ thanh thải creatinine, đạm máu và các xét nghiệm cơ bản khác như công thức máu, Hct, Hb, Ion đồ, khí máu, nước tiểu, điện tim, siêu âm tim, siêu âm thận, chức năng đông máu . . . . VLPD là 0.4g đạm/kg cân nặng và KA là 1 viên /5kg cân nặng:tuy theo thời gian được nghiên cứu và đánh giá đáp ứng lâm sàng, bệnh nhân sẽ được kiểm tra lại creatinine và đạm máu sau mỗi 01 tháng  , 03 tháng , 06 tháng và 01 năm … và các xét nghiệm khác khi cần.

 

          Các thay đổi của creatinine máu > 0.5mg% và đạm máu > 0.5% được xem như có  ảnh hưởng  thuận lợi hoặc bất lợi của chế độ ăn này trên chức năng thận và trên thể trọng.

 

          Tất cả bệnh nhân đều được giải thích về chế độ ăn và chấp thuận có thể theo đuổi đuổi điều trị.

 

          Ngoài ra bệnh nhân còn được điều trị thêm bằng những thuốc khác khi có chỉ định như hạ áp, thuốc làm tăng số lượng hồng cầu (Erythropoietine…).

 

III. KẾT QUẢ.

 

          Thời gian theo dõi trung bình là 16.6 tháng với ngắn nhất là 1 tháng và dài nhất là 23 tháng.

 

          Có 10 trường hợp có sự giảm creatinine máu (trước điều trị trung bình là 6.26mg%) và một thời gian sau điều trị trung bình là 4.03mg%) (P<0.005). trong nhóm này đạm máu trung bình trước điều trị là 6.61g% sau một thời gian điều trị và theo dõi (creatinine trung bình trước điều trị là 5.46mg% và kiểm tra sau một thời gian điều trị là 5.3mg%), 05 trường hợp đạm máu trung bình trong nhóm này trước điều trị là 7.14g% và kiểm tra sau một thời gian điều trị là 6.7g%, có 01 trường hợp đạm máu giảm từ trước điều trị là 7g% và sau một thời gian điều trị là 6.2g% nhưng vẫn chua phải CTNT. Trong nhóm này có 01 trường hợp tử vong vì bệnh nhân bị té cầu thang, không phải do điều trị.

 

          Ngoài trừ 01 trường hợp tử vong, tất cả các bênh nhân của 02 nhóm này hiện vẫn tiếp tục được theo dõi và điều trị bằng chế độ ăn như trên với các cải thiện về chất lượng cuộc sống, toàn trạng chung ổn định.

 

05 trường hợp còn lại,creatinine máu tăng cao hơn sau một tháng điều trị với trước điều trị trung bình là 5mg% và sau điều trị trung bình là 7,2mg% đồng thời có các dấu hiệu, triệu chứng ngộ độc của tình trạng tăng uree máu nên được chuyển sang chạy thận nhân tạo (CTNT) định kỳ, trong đó có 02 bệnh nhân chỉ theo đuổi VLPD + KA một thời gian rồi từ bỏ không tái khám định kỳ theo hẹn, khi suy thận nặng hơn phải vào bệnh viện được CTNT cấp cứu và sau đó CTNT định kỳ.

         

          Các bệnh nhân này từ khi CTNT định kỳ vẫn tiếp tục sử dụng KA để bù đắp thêm cho chế độ ăn thường kỳ. tất cả hiện ở trong tình trạng chung ổn định.

 

IV. BÀN LUẬN

 

          Điều trị suy thận mãn giai đoạn cuối vẫn là vấn đề nghiêm trọng do tử vong và tỷ lệ nằm bệnh cao và phí tổn lớn lao cho cả bệnh nhân lẫn xã hội (14).

 

          Trong những năm gần đây nhiều cố gắng đã được thực hiện nhằm phòng ngừa suy thận mãn giai đoạn cuối bằng cách làm chậm sự tiến triển của suy thận mãn và nhằm giảm tỹ lệ tử vong khi điều trị thay thế (ghép thận và CTNT). Hầu hết các nghiên cứu nhằm vào chiến lược này hay chiến lược khác nhưng lại ít nhấn mạnh ảnh hưởng của điều trị trước lọc máu đối với sự sống còn sau khi bắt đầu lọc máu. Tiết chế đạm đã được thực nghiệm trong nhiều nghiên cưu như là một chiến lược để làm chậm sự tiến triển của suy thận mãn (15) nhưng nếu tiết chế không đúng cách sẽ cùng với các biến chứng khác làm cho bệnh nhân bị suy dinh dưỡng. suy dinh dưỡng và sụt cân rất thường gặp ở bệnh nhân suy thận mãn có CTNT hay không với hậu quả tai hại là gia tăng tỷ lệ tử vong, làm chậm lành vết thương, dễ bị nhiễm trùng, mệt mỏi, khó phục hối chức năng (16). Giảm Albumine máu là một yếu tố nguy cơ đơn độc lớn nhất gây tử vong suốt trong lúc CTNT (17). Khi Albumine máu giảm dưới 3g% thì tỷ lệ tử vong sẽ gia tăng đáng kể (16).

 

          Ngược lại, trong các yếu tố nguy cơ tiềm ẩn làm cho suy thận mãn tiến triển nhanh hơn như cao huyết áp, tiểu đạm, rối loạn lipid máu, sự xâm nhập của các tế bào miễm dịch và chủ mô thận …. Có cả yếu tố là dùng nhiều đạm và phosphore (18). Sự gia tăng đạm trong khẩu phần sẽ kéo theo hoạt động renine huyết tương cao hơn và làm tăng bài tiết Prostagdine E2 và Prostacycline trong nước tiểu của bệnh nhân bị bệnh cầu thận (19). Do vậy, sự gia tăng sử dụng thuốc ức chế men chuyển trong những năm gần đây đã làm mờ đi vai trò, hiệu quả của tiết chế đạm trên mức độ suy thận giảm của lọc cầu thận (20).

         

Nhưng cá c nghiên cứu trên người ta cho thấy sự hạn chế chất đạm trong khẩu phấn sẽ có lợi đặc biệt cho các bệnh nhân suy thận mãn giai đoạn tiến triển (20).

 

          Qua nhiều cơ chế khác nhau, hầu hết các rối loạn chuyển hóa của suy thận mãn do tiểu đương hay do nguyên nhân khác.

 

          Vấn đề đặt ra là phải lựa chọn chế độ nào vừa làm chậm hoặc không thúc đẩy nhanh hơn diễn tiến của suy thận mãn vừa không gây tình trạng suy dinh dưỡng cho bệnh nhân. Để đạt được mục đích  này thì cần xác định trước tiên xem bệnh nhân có thể  theo đuổi được chế độ ăn giảm đạm khống (21) và khi bệnh nhân theo được thì cần phải cung cấp thêm các aid amin căn bản (essential amino acids (EAA) hay các Ketoacids (KA) để tránh suy dinh dưỡng. vì creatinine có nguồn gốc nội sinh, chủ yếu sinh ra từ sự hủy hoại creatinine của các cơ, do đó sự cải thiện hoặc không đổi của creatinine máu chỉ có ý nghĩa nếu khối lượng cơ không đổi tức cân nặng thật của bệnh nhân hoặc đạm máu không đổi.

 

          Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có 16/21 bệnh nhân (77%) (p<0.005) có thể kéo dài thời gian điều trị bảo tồn không phải CTNT.

 

          Các bệnh nhân đều có creatinine máu không đổi hay thấp hơn kèm theo có sự không đổi hoặc gia tăng của đạm máu so với trước khi điều trị, không có bệnh nhân nào tử vong hay suy dinh dưỡng do bản thân chế độ ăn gây ra, chỉ cần theo dõi bệnh nhân thật sát và chỉ định CTNT kịp thời khi suy thận tiến triển quá nhanh bất chấp chế độ ăn giảm đạm hay bệnh nhân không tuân thủ, theo đưởi chế độ ăn; như nghiên cứu của chúng tôi có 05 trường hợp phải chỉ định CTNT, trong đó có 02 trường hợp phải cấp cứu sau đó định kỳ vì bệnh nhân chỉ theo đuổi chế độ VLPD + KA một thời gian rồi từ bỏ.

         

          Vai trò của chế độ ăn tiết chế đạm và cung cấp thêm EAA hay KA lên sự tiến triển của chức năng thận và các tác dụng có lợi khác của chế độ ăn này cũng đã được xác nhận và báo cáo qua nhiều nghiên cứu của các tác giả khác trên thế giới.

 

          Theo Rigalleau và công sự (22), toan hóa máu là một biến chứng thường gặp của suy thận mãn và làm giảm tăng sự thoái biến protein trong cơ thể, biến chứng này có thể được cải thiện nhờ chế độ ăn ít đạm do giảm tính acid của khẩu phần. sự điều chỉnh toan chuyển hóa còn làm tăng tính nhạy cảm với Insuline.

 

          Nghiên cứu của Walser (17) trên 43 bệnh nhân có 05 bệnh nhân có giảm albumine, giảm transferrin và tăng cholesterol, sau 04 tháng điều trị bằng VLPD + Ka hay EAA thì thấy albumine + transferrine tăng gần bình thường hay bình thường, tác giả kết luận chế độ ăn này thay vì gây giảm đạm máu sẽ giúp phòng ngừa nó hay khi đã có giảm đạm máu sẽ giúp điều trị nó.

 

          Schunker (1) và cộng sự nghiên cứu và điều trị lâu dài suy thận mãn bằng KA và EAA trên 119 bệnh nhân thấy rằng có thể tác động thuận lợi trên sự chuyển hóa và tình trạng tăng ure huyết máu ngay cả trong các trường hợp suy thận mãn đã tiến triển bằng các phương pháp điều trị bảo tồn dài hạn. không có sự tiết chế đạm thích hợp và cung cấp thêm EAA hay KA thì phải cần phải CTNT sớm hơn. Một sự sụt cân rõ rệt dù cho đã điều chỉnh chế độ ăn là một chỉ định bắt đầu điều trị thay thế, cùng với các tác giả khác, nghiên cứu này cũng cho thấy có sự giảm PTH và sự gia tăng testosterone khi cung cấp KA. Theo nghiên cứu, KA còn có một số ưu điểm hơn EAA là ảnh hưởng tốt hơn trên tiến triển của suy thận mãn, điều trị đồng thời loạn dưỡng xương và cải thiện các rối loạn nội tiết tố.

 

Jungers (13) và cộng sự đã kết luận dù với số lượng nghiên cứu ít (19 bệnh nhân), KA tỏ ra hiệu quả hơn LPD đơn độc một cách có ý nghĩa trong sự làm chậm sự tiến triển của suy thận mãn, kép dài thời gian không phải CTNT.

 

          Klah (21) thực hiện nghiện cứu so sánh 02 nhóm bệnh nhân, nhóm A (585 bệnh nhân) có GFR=13-24ml/1 phút cho chế độ ăn đạm bình thường hay giảm và nhóm B (255 bệnh nhân) có GFR=13 – 24ML/1 phút cho chế độ ăn LPD hay VLPD + KA hoặc EAA thấy rằng vì đạm niệu có vai trò sinh bệnh học trong sự tiến triển của bệnh thận, do tác dụng của tiết chế đạm giúp làm chậm sự gia tăng đạm niệu nên chế độ ăn này sẽ có lợi cho các bệnh nhân có bệnh thận tiến triển. ngoài ra, nghiên cứu gợi ý mạnh mẽ ảnh hưởng có lợi của chế độ ăn giảm đạm trên sự tiến triển của các bệnh nhân thận có GFR, làm giảm các nguy cơ suy thận hay tử vong.

 

          Aparicio và cộng sự (22) nghiên cứu trên 40 bệnh nhân ngoại trú bị suy thận mãn tiến triển với GFR=15.59 ± 5.41ml/1 phút, với chế độ LPD + KA hay EAA thấy rằng giới hạn nghiêm ngặt đạm và phosphore trong thức ăn là bắt buộc, giúp điều chỉnh hầu hết các hậu quả chuyển hóa của suy thận mãn và làm chậm hơn sự tiến triển của suy thận.

 

          Bergstrom và cộng sự (23) đã chứng minh rằng có thể làm chậm lại sự tiến triển của suy thận mãn nhờ kiểm soát tốt huyết áp và theo dõi bệnh nhân thường xuyên trước khi họ dùng chế độ giảm đạm. Tuy nhiên, tác giả không thể loại trừ khả năng là bệnh nhân đã biết được lợi ích của chế độ giảm đạm và tự thử ứng dụng chế độ này trong giai đoạn được kiểm soát huyết áp.

 

          Như vậy qua nghiên cứu của chúng tôi cũng như nhiều tác giả có thể kết luận liệu pháp bảo tồn suy thận mãn quan trọng nhất là chế độ ăn giảm đạm và cung cấp thêm KA hay EAA dù cho bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ khác làm suy sụp chức năng thận như cao huyết áp thì ngoài việc điều trị các yếu tố này,chế độ ăn giảm đạm và cung cấp thêm KA hay EAA vẫn có một vai trò quan trọng giúp làm chậm sự tiến triển của suy thận và tránh được suy dinh dưỡng cho bệnh nhân bị suy thận mãn.

 

 
CHẾ ĐỘ ĂN CHO BỆNH NHÂN HỘI CHỨNG THẬN HƯ

 Hội chứng thận hư (HCTH) là hội chứng lâm sàng và sinh hóa xuất hiện ở nhiều bệnh do tổn thương ở cầu thận, đặc trưng bằng những dấu hiệu sau: Phù, Protein niệu cao, Protein máu giảm, Lipid máu tăng.


Tiêu chuẩn chẩn đoán:


1. Phù: Phù mặt, chi dưới; có thể phù toàn thân kèm theo cổ chướng và tràn dịch màng phổi.


2. Protein niệu cao > 3,5g/24 giờ.


3. Protein máu giảm < 60g/lít, Albumin máu < 30g/lít.


4. Rối loạn lipid máu: lipid máu tăng > 9g/lít, cholesterol tăng > 6,5mmol/lít, triglycerid > 2,3mmol/lít.


5. Có hạt mỡ lưỡng chất, trụ mỡ trong nước tiểu.


Trong đó các tiêu chuẩn 2 và 3 bắt buộc phải có.


Nguyên nhân dẫn tới HCTH


Có 2 nguyên nhân:


- Nguyên nhân nguyên phát ở cầu thận.


- Nguyên nhân thứ phát do các bệnh toàn thể hoặc những trường hợp bệnh lý khác dẫn đến.


- Ở người lớn, khoảng 80% viêm cầu thận không biết rõ nguyên nhân, còn lại là kết hợp với bệnh hệ thống hay bệnh lupus ban đỏ, tiểu đường và thận dạng bột.


Bệnh sinh của HCTH chưa được hiểu biết đầy đủ. Về giải phẫu bệnh học thì tổn thương ở màng đáy cầu thận là chủ yếu. Bình thường màng đáy không cho các phần tử lớn như protein đi qua. Khi có một nguyên nhân nào đó làm màng đáy bị tổn thương, điện thế của màng đáy bị thay đổi thì protein lọt qua được. Protein niệu càng nhiều thì protein máu càng giảm. Albumin ra nhiều nhất (80%) làm giảm áp lực keo của huyết tương, nước thoát ra ngoài lòng mạch. Hậu quả là gây phù và giảm thể tích tuần hoàn hiện dụng. Từ đó một mặt trực tiếp gây tái hấp thu nước và Natri ở ống lượn gần, mặt khác gián tiếp qua hệ thống điều hòa nội tiết làm tăng ADH và Aldosteron. ADH tăng sẽ tái hấp thu nước ở ống góp, Aldosterol tăng sẽ tái hấp thu Na+ và nước ở ống lượn xa và ống góp. Kết quả của quá trình trên là cơ thể giữ Natri và giữ nước, do đó sẽ tiểu ít và dẫn tới phù toàn thân, kéo theo các rối loạn nước và điện giải. Về thành phần lipid máu tăng thì chưa có giải thích đầy đủ. Có giả thuyết cho rằng lipid, cholesterol máu trong HCTH là một yếu tố gây xơ hóa cầu thận và dẫn đến suy thận.


Khi mắc HCTH, bệnh nhân thường bị suy dinh dưỡng do thiếu protein - năng lượng do mất nhiều protein qua đường nước tiểu kèm theo chán ăn do giảm dịch ruột, phù gan và nội tạng. Ngoài ra ăn kém do cảm thấy căng trướng do bị cổ chướng. HCTH kéo dài sẽ dẫn đến tiêu cơ bắp, rụng tóc. Tình trạng thiếu dinh dưỡng còn góp phần làm tăng tình trạng mắc các bệnh nhiễm khuẩn trong HCTH như: Viêm phúc mạc tiên phát, viêm phổi, viêm cơ, lao phổi... Cho nên ngoài việc điều trị bằng thuốc, chế độ ăn trong HCTH cũng đóng vai trò hết sức quan trọng giúp cơ thể tăng sức đề kháng và chống lại các rối loạn về thành phần sinh hóa trong máu.
 

Các nguyên tắc trong xây dựng chế độ ăn cho bệnh nhân bị HCTH:


1. Giàu chất đạm (protein): Do mất nhiều protein qua nước tiểu, làm giảm protein máu, giảm áp lực keo gây phù, teo cơ, suy dinh dưỡng, do đó chế độ ăn phải bù đủ lượng đạm cho chuyển hóa của cơ thể và số lượng đạm mất qua nước tiểu, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều đạm vì có thể sẽ làm xơ hóa cầu thận dẫn đến suy thận.


Lượng đạm trung bình 1 ngày = 1g/kg/ngày + lượng protein mất qua nước tiểu trong 24 giờ. Trong đó 2/3 là đạm động vật có giá trị sinh học cao từ thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa. 1/3 là đạm thực vật từ gạo, mì, đậu đỗ...


2. Năng lượng: Ðảm bảo đủ năng lượng từ 35-40kcalo/kg/ngày.


3. Chất béo: Nên ăn giảm chất béo (20-25g/ngày). Do rối loạn chuyển hóa lipid máu, tăng cholesterol, vì vậy không nên ăn các loại thực phẩm chứa nhiều cholesterol như óc, lòng, các loại phủ tạng động vật, bơ, mỡ, trứng. Ðặc biệt nên tránh quan niệm "ăn thận bổ thận", vì trong thận (bầu dục) có chứa nhiều cholesterol.


Khi chế biến thức ăn nên hấp, luộc; Hạn chế xào, rán, quay. Nên dùng các loại dầu thực vật như: Dầu đậu tương, dầu hạt cải, dầu lạc, dầu vừng để thay thế mỡ.


4. Các vitamin, muối khoáng và nước:


- Lượng nước trong chế độ ăn và uống hàng ngày bằng lượng nước tiểu + 500ml.


- Ăn nhạt, bớt muối, mì chính: 1-2g muối/ngày.


- Ăn nhiều các loại thực phẩm có chứa nhiều vitamin C, beta caroten, vitamin A, selenium (như các loại rau xanh, quả chín có màu đỏ và vàng: đu đủ, cà rốt, xoài, giá đỗ, cam...) vì các loại vi chất dinh dưỡng nêu trên có tác dụng chống oxy hóa, chống tăng các gốc tự do - là những chất gây xơ hóa cầu thận, chóng dẫn đến suy thận. Trong những trường hợp tiểu ít và có kali máu tăng thì phải hạn chế rau quả.


Những thực phẩm nào nên dùng cho bệnh nhân HCTH?


1. Chất đường bột: Các loại gạo, mì, khoai sắn đều dùng được.


2. Chất béo: Các loại dầu thực vật (dầu đậu tương, dầu mè, lạc vừng...).


3. Chất đạm:


- Ăn thịt nạc, cá nạc, trứng sữa, đậu đỗ...


- Nên sử dụng sữa bột tách bơ (sữa gầy) để tăng cường lượng đạm và calci.


4. Các loại rau quả:


Ăn được tất cả các loại rau quả như người bình thường, trừ trường hợp tiểu ít thì phải hạn chế rau quả.


Những thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế dùng cho bệnh nhân bị HCTH


1. Chất bột đường: Không cần kiêng một loại nào.


2. Chất béo:


- Giảm số lượng, hạn chế ăn mỡ động vật.


- Nên chế biến bằng cách hấp, luộc; Hạn chế xào, rán.


3. Chất đạm:


- Không sử dụng các phủ tạng động vật như tim, gan, thận, óc, dạ dày...


- Hạn chế trứng: 1-2 quả/tuần.


4. Các loại rau quả:


- Nếu bệnh nhân không tiểu được thì không nên ăn các loại quả có hàm lượng Kali cao như cam, chanh, chuối, dứa, mận...


Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày


1. Gạo tẻ: 250-300g.
2. Thịt nạc hoặc cá nạc: 200g, hoặc thay thế bằng 300g đậu phụ.
3. Dầu ăn: 10-15g.
4. Rau: 300-400g.
5. Quả: 200-300g.
6. Muối ăn: 2-4g.
7. Sữa bột tách bơ: 25-50g.
8. Ðường: 10g.


Lưu ý: Ăn nhạt hoàn toàn trong giai đoạn phù; Khi hết phù có thể ăn 2 thìa cà phê nước mắm 1 ngày.


Thạc sĩ Lê Thị Hải

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 3 của 3

partner4

Copyright 2008 Hoang Long Pharma. All Rights Reserved - Powered by DHDI Corp