| Tỉ giá ngoại tệ | |
| 1 đơn vị | VNĐ |
| Dự báo thời tiết | |
| Địa điểm | Nhiệt độ |
Thống kê Websites
Các thành viên : 20Content : 107
Liên kết web : 5
Số lần xem bài viết : 1212445
Ai đang trực tuyến
Hiện có 12 khách Trực tuyếnThống kê truy cập







![]() | Hôm nay | 279 |
![]() | Hôm qua | 1795 |
![]() | Tuần này | 5830 |
![]() | Tháng này | 37852 |
Viên đạm dành cho bệnh nhân suy thận - Aminoral Keto Acid
|
|
VesPro ENVIVA - Bí quyết hạnh phúc của người phụ nữ hiện đại!
![]() |
| Gốc tự do và bệnh tật |
|
Gốc tự do và bệnh tật
Giáo sư ĐÀM TRUNG BẢO
Tia tử ngoại, các bức xạ ion hóa, nhiều chất ô nhiễm khí quyển và chất độc (ozon), là nguồn gốc của sự biến đổi phân tử oxy và sự peroxy hóa lipid (nguồn gốc tự do ngoại sinh). Đồng thời còn có những gốc tự do nội sinh do các tế bào hệ miễn dịch, và các tế bào nõi bị viêm. Các gốc tự do đó nhiều khi đóng vai trò chủ yếu trong nhiều bệnh
1. Các bệnh tim mạch : Sự sản sinh quá nhiều gốc tự do trong những trạng thái thiếu máu cục bộ cấp tính, những chấn thương do đụng giập, là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thương tế bào. Thực vậy, sự thiếu oxy ở tế bào kéo theo sự giảm sản sinh ATP ở ty thể, nên làm tăng dần chất thoái biến của nó là hypoxanthin. Đồng thời, bơm calci của tế bào bị tê liệt, nồng độ calci ở bào tương tăng. Điều đó làm cho enzym xanthin dyhydrogenase hoạt hóa thành xanthin oxydase dưới tác dụng của một protease.
Khi tưới máu lại, oxy được đưa tới với lượng lớn, cùng với hypoxanthin với sự xúc tác của xanthin oxydase, sẽ sinh ra anion gốc superoxyd, làm khơi mào một chuỗi phản ứng gốc tự do. Mặt khác, acid arachidonic tích lũy trong giai đoạn thiếu máu cục bộ, sẽ sinh ra các endoperoxyd và giải phóng các gốc tự do. Sự giải phóng này là nguyên nhân của sự peroxy hóa lipid và AND, gây tổn hại màng tế bào. Các bạch cầu đa nhân và các đại thực bào di chuyển đến đó là vùng bị viêm, lại sinh thêm một lượng lớn gốc tự do. Người ta nhận thấy có một số bệnh về máu có nguyên nhân do sự sản sinh quá nhiều gốc tự do hoặc do hệ thống gốc tự do bị yếu đi: Bệnh Kawasaki là bệnh viêm mạch cấp kèm sốt ở trẻ em mới sinh hay gặp ở Châu Á, ở Mỹ, Canada. Bệnh Keshan là bệnh cơ tim gặp ở Trung Quốc, do thiếu selen, một đồng yếu tố của glutathion peroxydase. Hiện tượng chóng mặt, sự giảm thính lực; sự ù tai; sự dễ ngưng kết tiểu cầu; sự gây vữa động mạch: các mảng vữa động mạch chứa đầy các lipid peroxyd. Do đó sự peroxyd hóa lipid trong hoàn cảnh tương đối giàu oxy ở những động mạch lớn có liên quan với tác dụng của các gốc tự do sinh ra từ các yếu tố của máu, các đại thực bào, làm các tổn thương nội mô thêm nghiêm trọng. 2. Bệnh viêm khớp : Các gốc tự do có thể gây tổn thương trực tiếp đến tế bào, và cũng làm hỏng các protein cấu trúc nhiều tổ chức. Trong quá trình bệnh thấp khớp, như viêm khớp dạng thấp, các triệu chứng viêm được tăng cường một cách bất thường và gây ra sự sản sinh rất nhiều gốc tự do. Bệnh này được đặc trưng bởi hàm lượng cao các dẫn chất, lipoperoxyd trong hoạt dịch: dịch này có độ nhớt thấp do các gốc tự do sinh ra từ bạch cầu trung tính được kích thích ở khớp bị tổn thương, đã cắt ngắn các polyme của acid hyaluronic.
3. Bệnh dạ dày - ruột : Các đợt viêm trong bệnh viêm trực - kết tràng có xuất huyết và bệnh Crohn có những hiện tượng như: bệnh viêm đa khớp dạng thấp. Ta thấy những tổn thương: phù nề, loét, hoại tử, do các bạch cầu trung tính thấm nhiễm vào niêm mạc đường tiêu hóa và sinh ra gốc tự do ở đó.
4. Trong nhãn khoa : Các gốc tự do tham gia trong sự sinh ra một số bệnh về mắt, trước tiên phải đến sự thoái hóa võng mạc và bệnh đục thủy tinh thể. Võng mạc là một tổ chức giàu oxy, có nhiều màng, và đó là những đích của sự peroxy hóa lipid. Sự tấn công của các gốc tự do trên những thụ thể cảm nhận ánh sáng, và sự thoái hóa các đĩa võng mạc, kèm theo sự tạo thành các chất phế thải là những nguyên nhân chính của sự thoái hóa lão suy điểm vàng, và bệnh võng mạc do đái tháo.
Tương tự như vậy, sự peroxy hóa lipid do gốc tự do là nguyên nhân của bênh đục thủy tinh thể. Do các gốc tự do có tham gia trong bất kỳ quá trình viêm nào, nên các gốc tự do có liên quan đến bệnh viêm màng mạch nhỏ và viêm giác mạc có nhiễm khuẩn. Cuối cùng, ta chú ý đến tính độc của liệu pháp dùng oxy ở áp suất cao ở trẻ mới sinh, gây ra bệnh xơ sau thủy tinh do hệ chống oxy hóa của trẻ chưa hoàn thiện. 5. Trong bệnh phổi: Các gốc tự do tham gia trong những bệnh phổi, phế quản, là do những bạch cầu đa nhân trung tính thấm nhiễm vào phổi. Các bạch cầu này sản sinh ra một lượng lớn các dạng oxy hoạt động, tạo điều kiện cho hội chứng choáng phổi ở người trưởng thành và những bệnh phổi ở kẽ lan tỏa mạn tính, tràn khí và hen. ở trẻ đẻ non, bệnh loạn sản ở phổi và phế quản do sự phát triển nhu mô không trưởng thành do liệu pháp dùng oxy.
6. Trong bệnh đái tháo : Trong bệnh đái tháo, có sự tăng cường sự peroxy hóa lipid, gây tổn hại võng mạc và các tế bào B của tiểu đảo Langerhans. Ngoài ra, hoạt độ các superoxyd dismutase ở bạch cầu của catalase và peroxydase bị giảm đi ở bệnh nhân đái tháo.
7. Trong lão khoa thần kinh : Có thể giải thích một phần sự già bằng sự giảm thiểu các hệ chống oxy hóa. Thực vậy, do sự biến tính của AND và các protein của cơ thể, các gốc tự do gây tổn thương tế bào lâu dài sẽ dẫn đến sự chết tế bào, và cơ thể. Cũng như vậy, một số dạng của sự già bệnh lý (bệnh Parkinson và Alzeheimer) được cho là có bệnh căn là các gốc tự do. Sự thoái hóa các neutron của hệ vân đen trong bệnh Parkinson có thể có quan hệ phần lớn với những tổn thương oxy hóa nguồn gốc nội sinh hay ngoại sinh.
Hiện nay, người ta đã xác định bệnh Đao, hệ quả của thể ba nhiễm sắc 21, cũng như một số chứng loạn tâm thần,là những trạng thái stress oxy hóa được tăng cường khuếch đại. Trong bệnh Đao, hoạt độ CuZnSOD ở hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và nguyên bào sợi tăng 50% còn MnSOD thì hoạt độ giảm. 8. Trong ung thư : Tác dụng gây ung thư của các gốc tự do có liên quan đến khả năng oxy hóa của chúng với chuỗi AND, với các protein và các acid béo nhiều dây nối đôi. Tác dụng của các gốc tự do trực tiếp biến tế bào lành thành tế bào u thì hạn chế. Một số dạng ung thư, về mặt dịch tễ học, có liên quan đến sự phơi nắng. Sụ kích thích các chất nhạy cảm với ánh sáng nội sinh (porphyrin, flavin, NADH) sinh các gốc tự do sau khi kích thích phân tử oxy. Mặt khác, các gốc tự do tế bào ung thư sinh ra có thể gây tổn hại đến hàng rào nội mô các mạch máu, tạo điều kiện cho sự di căn. Ngược lại, tác dụng chống ung thư của nhiều thứ thuốc được giải thích qua tác dụng độc với tế bào của các gốc tự do sinh ra trong quá trình oxy hóa khử các thuốc đó.
9. Trong độc chất học : Sự giải phóng các gốc tự do được giải thích tác dụng độc của các bức xạ ion hóa, của tetraclorua, paraquat, và ethanol, các chất ô nhiễm khí quyển, thuốc lá. Một hơi thuốc lá chứa khoảng 1014 gốc tự do. Độc tính với gan của một số thuốc (paracetamol, isoniazid, halothan…) cũng như độc tính với tim của doxorubicin là do sự peroxy hóa lipid các tế bào gan và tim.
Kết luận : Do có áp lực mạnh với các điện tử cô độc, oxy là nguồn gốc sản sinh ra nhiều loại gốc tự do có hoạt tính cực mạnh và nguy hiểm cho tế bào. Độc tính của các gốc tự do trong quá trình bệnh tim mạch và hô hấp, trong nhiễm độc, trong ung thư, trong những bệnh của hệ miễn dịch, và một số quá trình viêm hiện nay đã được chứng minh. Khả năng các chất chống gốc tự do và chống sự peroxy hóa lipid có nguồn gốc nôi sinh có thể vượt qua trong một số trạng thái bệnh lý, khả năng đó bị giảm thiểu khi già, nên điều hợp lý là dùng những chất chống oxy hóa trong các bệnh có liên quan đến gốc tự do. Có thể là sự kết hợp của một số bẫy gốc ở những mức độ nhất định sẽ mang lại một lợi ích thiết thực trong điều trị một số bệnh.
Trong tương lai, liệu pháp chống oxy hóa thông qua gien là một cách tiếp cận việc điều trị những bệnh có khả năng làm tăng nồng độ các protein có hoạt tính chống oxy hóa bằng cách điều khiển sự biểu thị các gien mã hóa các chất chống oxy hóa đó. Tài liệu tham khảo:
Pascal Condert - Catherine Rubot - Valery Soutou - Michel Bastide - Robert Malhuret - Jenan Chopinescu - Theo tạp chí Actualiés Pharmaceutiques tháng 6/1994, số 321, trang 37-46.
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|








