Bảng quảng cáo
Tỉ giá ngoại tệ
1 đơn vị VNĐ

Dự báo thời tiết
Địa điểm Nhiệt độ

Thống kê Websites

Các thành viên : 16
Content : 95
Liên kết web : 5
Số lần xem bài viết : 519352

Ai đang trực tuyến

Hiện có 1 khách Trực tuyến

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay64
mod_vvisit_counterHôm qua982
mod_vvisit_counterTuần này3833
mod_vvisit_counterTháng này8520
Chăm sóc sức khỏe
LIỆU PHÁP THAY THẾ HORMON TĂNG TRƯỞNG VÀ CUỘC CÁCH MẠNG CHỐNG LÃO HÓA

images1521968_kiem-dinh-vaccine-h5n1-tai-Sự sản sinh hàng ngày hormon tăng trưởng (HGH) đạt đến cực đại vào những năm cuối của tuổi dậy thì, sau đó giảm dần khi cơ thể đã hoàn thành phát triển.

Từ tuổi 21 đến 61, sự sản xuất HGH đã giảm xuống, chỉ còn một tỷ lệ báo động là 20%. Ở người già hầu như không còn HGH.

Liệu pháp thay thế hormon không chỉ là bổ sung estrogen cho phụ nữ sau mãn kinh bởi đối tượng này chỉ là một trường hợp cụ thể của liệu pháp. Ngoài estrogen, còn nhiều hormon khác mà sự bổ sung đã đem lại lợi ích lớn.

Đọc thêm...
 
HOÓC MÔN TĂNG TRƯỞNG – VỊ THUỐC CẢI LÃO HOÀN ĐỒNG

truongsinhCác nhà khoa học đã khám phá một yếu tố quan trọng liên quan mật thiết với tuổi già, đó là sự thiếu hụt hoóc môn tăng trưởng hGH. Việc tìm ra các chất kích thích cơ thể sản xuất hGH đã tạo niềm hy vọng về chuyện đảo ngược quá trình lão hóa.

hGH được phóng thích bởi tuyến yên từ lúc mới sinh cho đến khi cao tuổi. Sau khi vào máu, nó nhanh chóng đến gan để được chuyển thành chất DGF-1, DGF-2. Đây là những phân tử truyền tin và được xem là “yếu tố tăng trưởng”, kích thích sự phát triển các phần khác nhau của cơ thể.

Đọc thêm...
 
CHỨC NĂNG CỦA HORMON SINH TRƯỞNG (GH)

somatoplex1Hormon sinh trưởng, khác với các hormon khác do thùy trước tuyến yên tiết ra là nó không thực hiện chức năng thông qua một tuyến nội tiết khác mà ảnh hưởng đến hầu như toàn bộ các mô bào trong cơ thể.

1.Ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng:

Growth hormone (GH) còn được gọi là somatotropic hormone (SH) hay somatotropin là một protein có kích thước nhỏ với 191 a.a. tạo thành chuỗi đơn có khối lượng phân tử 22,005. Hormon kích thích tăng trưởng của tế bào (cả tăng về kích thước và kích thích quá trình phân bào). Thí nghiệm tiêm GH cho chuột chưa trưởng thành thấy tất cả các cơ quan tăng kích thước so với đối chứng. Khi đến tuổi trưởng thành chuột được tiêm GH không phát triển hơn về chiều dài xương nhưng tất cả các mô khác vẫn tiếp tục phát triển. Thí nghiệm này cũng cho thấy khi đĩa sinh trưởng của xương dài gắn với cán xương, xương sẽ không phát triển được thêm về chiều dài nhưng hầu hết các mô khác của cơ thể vẫn có thể tiếp tục tăng trưởng trong suốt cuộc đời.

2.Ảnh hưởng đến trao đổi chất

- Làm tăng cường tổng hợp protein ở tất cả mọi loại tế bào

- Tăng quá trình phân giải mô mỡ để giải phóng năng lượng

- Giảm sử dụng glucose

  • Tóm lại, GH làm tăng tng hợp protein, tăng sử dụng mỡ và tăng chuyển hóa gluxit. Vì vậy có thể cho rằng tác dụng kích thích sinh trưởng của GH thông qua tác dụng làm tăng quá trình tổng hợp protein.

2.1.Vai trò của GH đối với quá trình tích lũy protein

Một số phương thức tác động của GH dẫn đến quá trình tích lũy protein như sau:

- Làm tăng quá trình vận chuyên amino acid qua màng tế bào dẫn đến tăng nồng độ amino acid trong tế bào. Nồng độ amino acid sẽ có tác động tăng cường quá trình tổng hợp protein. Tác động làm tăng nồng độ amino acid tương tự như tác động của insulin đến quá trình vận chuyển glucose.

- Làm tăng quá trình tổng hợp protein bởi ribosome: GH tác động trực tiếp đến các ribosome. Tuy vậy, cơ chế tác động vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ.

- Làm tăng cường quá trình sao mã DNA tạo các RNA trong nhân tế bào (sau khi tác động 24-48 giờ) từ đó làm tăng tổng hợp protein dẫn đến kích thích tăng trưởng nếu có đầy đủ các yếu tố khác như năng lượng, các amino acid, các vitamin…

- Làm giảm sử dụng protein thông qua kích thích sử dụng các axit béo (fatty acids) từ mô mỡ để giải phóng năng lượng cần thiết thay cho việc sử dụng protein.

2.2.Ảnh hưởng đến sử dụng mô mỡ

GH có tác dụng giải phóng fatty acid từ mô mỡ làm cho nồng độ của các fatty acid tăng trong các loại dịch thể. Thêm vào đó, trong các mô bào, GH làm tăng cường quá trình chuyển fatty acid thành acetyl CoA để sử dụng cho giải phóng năng lượng.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng tác dụng huy động fatty acid thay cho việc sử dụng protein là cơ chế quan trọng của GH dẫn đến quá trình sinh trưởng. Tuy vậy, GH cần đến vài giời để phát huy được tác động này trong khi đó chỉ cần thời gian tính bằng phút GH đã có thể kích thích tăng cường tổng hợp protein.

2.3.Ảnh hưởng đến trao đổi carbonhydrate

- Làm giảm sử dụng glucose: Cơ chế dẫn đến ảnh hưởng này vẫn đang được nghiên cứu. Có thể GH làm tăng cường huy động fatty acid dẫn đến tổng hợp một lượng lớn acetyl-CoA sinh ra các tín hiệu phản hồi khóa quá trình biến đổi glucose và glycogen.

- Tăng cường dự trữ glycogen: Vì glucose và glycogen không được huy động để giải phóng năng lượng nên glucose vào trong tế bào nhanh chóng được biến đổi thành glycogen dự trữ. Khi tế bào trở thành trạng thái "no" glycogen sẽ không thể dự trữ glycogen thêm nữa.

- Dừng quá trình hấp thu và tích lũy glucose tế bào và làm tăng nồng độ glucose trong máu: Khi đưa glucose vào cơ thể, lúc đầu quá trình chuyển glucose vào tế bào sẽ tăng làm cho nồng độ glucose trong máu giảm nhẹ. Tuy vậy, hiện tượng này dừng lại chỉ sau khoảng 30 phút đến 1 giờ sau đó sẽ dẫn đến tác động ngược lại (do giảm quá trình vận chuyển vì tế bào không thể thu nhận thêm glucose được nữa). Nếu không có sự hấp thu glucose, nồng độ glucose trong máu có thể sẽ tăng cao hơn 50-100 lần trong máu so với bình thường.

- Vai trò của insulin và carbonhydrate đối với GH.

Nếu động vật bị cắt tuyến tụy hay ăn khẩu phần không có carbonhydrate, GH sẽ không phát huy được tác dụng. Một trong những vai trò quan trọng của insulin và carbonhydrate là cung cấp năng lượng cần thiết cho sinh trưởng. Tuy nhiên insulin và carbonhydrate còn có nhiều ảnh hưởng quan trọng hơn đối với GH. Ví dụ insulin làm tăng cường quá trình vận chuyển amino acid và glucose.

GH làm tăng nồng độ glucose trong máu sẽ kích thích tế bào beta của đảo tụy tăng tiết insulin. Bên cạnh đó GH còn có tác động trực tiếp đến tế bào beta. Sự kết hợp của hai tác động này đôi khi dẫn đến hiện tượng kích thích quá mức tế bào beta làm cơ thể rơi vào tình trạng huy động "hết sạch" khả năng của tế bào này dẫn đến bệnh tiu đường. Chính vì vậy hormon sinh trưởng được cho là có tính bệnh nguyên của tiểu đường.

Tác dụng này cũng có thể xảy ra với một số hormon khác của tuyến yên như adrenocorticotropin, thyroid-stimulating hormon và prolactin. Đặc biệt adrenocorticotropin làm tăng tiết cortisol vỏ thượng thận dẫn đến tác động của cortosol tăng nồng độ glucose trong máu và có thể gây tác động tương tự như GH.

Tiểu đường do tuyến yên (pituitary diabetes): Tăng tiết GH hay một số hormon khác của tuyến yên dẫn đến sự sử dụng glucose của tế bào giảm có thể dẫn đến tăng nồng độ glucose trong máu dẫn đến hiện tiểu đường - pituitary diabetes (khác với diabetes mellitus -tiểu đường do thiếu insulin)

PHÁT TRIỂN CỦA XƯƠNG & SỤN - VAI TRÒ CỦA SOMATOMEDINS

 

GH không làm tăng quá trình phát triển và phân chia của những tế bào tiền sụn một cách rõ ràng trong môi trường nuôi cấy nhân tạo nhưng làm tăng quá trình phát triển của mô sụn khi tiêm trực tiếp cho động vật. Như vậy, GH có tác động gián tiếp đến mô sụn và xương. Nghiên cứu cho thấy GH kích thích gan sản xuất một số protein có kích thước nhỏ (khối lượng phân tử trong khoảng 4500 đến 7500) gọi là các somatomedin có tác dụng kích thích mô xương và sụn phát triển. Một số somatomedin có tác dụng tăng cường quá trình lắng đọng chondroitin sulfate và collagen (những yếu tố cần thiết cho quá trình hình thành và phát triển của xương và sụn). Các somatomedin có tác động tương tự nhau nhưng có thể chỉ khác nhau về mức độ kích thích.

Khi đầu xương gắn với thân xương, xương không có khả năng phát triển về chiều dài nhưng vẫn có khả năng tăng độ dày do quá trình tạo xương vẫn sảy ra ở màng xương. Chính vì vậy, GH dù có được tiết nhiều sau thời kỳ trưởng thành vẫn không có khả năng làm tăng chiều cao cơ thể. Tuy nhiên, quá dư thừa GH chỉ kích thích phần thân xương tăng chiều dày. Phần chiều dày thân xương dư thừa không gắn được với đầu xương sẽ làm xương có hình dạng không cân đối. Ví dụ về hiện tượng này là dô xương hàm, dô xương trán...

Với nồng độ rất thấp somatomedin đã có tác dụng tưong tự như một GH ở nồng độ rất cao chứng tỏ hầu hết chức năng trao đổi chất của GH không thông qua ảnh hưởng trực tiếp của nó đến các mô mà thông qua tác dụng của các somatomedin.....

Nguyễn Bá Tiếp

 
TẢO LỤC GREEN GEM MANG LẠI SỨC KHỎE VÀNG

Ngày nay người ta coi dinh dưỡng hợp lý là ăn thức ăn thông thường đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm với việc sử dụng thực phẩm chức năng (functional food). Thực phẩm chức năng (TPCN) có chứa các chất có hoạt tính sinh học đối với cơ thể có trong tự nhiên hoặc tổng hợp có tác dụng hỗ trợ bảo vệ cơ thể phòng tránh được các bệnh, giảm dần và tiến tới làm mất hẳn các triệu chứng của bệnh, phục hồi dần các chức năng vốn có của cơ thể. Công nghệ chế biến TPCN ngày nay cũng đã có những tiến triển vượt bậc mà nhờ đó, các loại sản phẩm tự nhiên như Tảo Lục được chế biến ở quy mô công nghiệp có chức năng đặc thù hoặc đa chức năng, chất lượng cũng không thua kém động vật quý hiếm sản xuất theo cách cổ truyền. Theo hướng đi này, nhiều công ty nước ngoài cũng như trong nước thời gian qua đã đưa vào thị trường Việt Nam các loại TPCN với nhiều công dụng khác nhau. Đáng chú ý, Tảo Lục (Chlorophyta sp. Chlorophyceae) một loại rong biển dùng để sản xuất TPCN đạt hiệu quả cao. Có 6 lớp, khoảng 13 - 20 nghìn lođi. Một số bộ hay gặp: Volvocales, Chlorococoales, Ulothricales, Oedogoniales vđ Conjugales. Thành phần quan trọng của Tảo Lục có chứa chlorophyll (diệp lục) a vđ b cùng caroten vđ xanthophin, chứa chất dự trữ lđ tinh bột, chất béo. Đặc biệt vách tế bđo lđ cellulose vđ hemicellulose. Tảo Lục có sắc tố, trao đổi chất vđ siêu cấu trúc giống rêu. Một số lođi thuộc các chi Tảo Lục đang được di thực nuôi trồng để lđm thực phẩm vđ dược liệu như Chlorella, Spirogyra, vv.

Tảo Lục được phát hiện và nuôi trồng ở Mỹ vào năm 1948, có nhiều đặc điểm đặc biệt. Kết cấu tế bào của Tảo Lục là dạng đơn bào giống như ở người nhưng kích thước thì rất nhỏ bé phải phóng đại qua kính hiển vi đến 600 lần mới nhìn thấy được. Thành tế bào chủ yếu là chất xơ, tạo cho tế bào cứng chắc có khả năng hấp thụ các kim loại nặng, thuốc trừ sâu, các độc tố, các chất gây ung thư (như aflatoxin) để có thể đưa ra ngoài cơ thể khi chúng ta ăn một lượng thích hợp Tảo Lục. Ngược lại Tảo Lục lại có chứa một lượng lớn chất diệp lục (green light) là nhân tố tăng trưởng tự nhiên CGF (Chlorella Grow Factor), lượng CGF này cao hơn tảo xoắn thường có ở biển Việt Nam là 3 lần. Thành phần dinh dưỡng của Tảo Lục rất phong phú nhưng đáng chú ý là hàm lượng Canxi tự nhiên cao hơn sữa bò tươi gấp 1,5 lần và lượng Vitamin B12 cao và luôn ở dạng có hoạt tính sinh học cao. Hiện nay Tảo Lục đã được sản xuất ở một số nước trên Thế giới (như Mỹ, Nhật, Đài Loan...) và thường xuyên được dùng để chăm sóc sức khoẻ cho nhiều đối tượng như một sản phẩm cần thiết, điều chỉnh lập lại cân bằng dinh dưỡng cũng như cân bằng của sức khoẻ và cuộc sống.

Green Gem đã được Tập đoàn Taiwan Chlorella Đài Loan, một tập đoàn hàng đầu thế giới chuyên sản xuất, chế biến các chế phẩm từ Tảo Lục trên dây truyền công nghệ hiện đại đã chế tác để tiện lợi cho việc sử dụng, lưu trữ và phân phối. Sản phẩm được tiêu thụ rộng rãi trên 40 quốc gia và đặc biệt được ưa chuộng tại Nhật Bản. Hiện đã nhập vào Việt Nam 2 dạng là viên nén và viên nang. Viên Tảo Lục là nguồn dinh dưỡng quý rất giàu protein 65-68%, trong đó có chứa nhiều acidamin và các peptid đặc biệt cần thiết quý hiếm từ thiên nhiên, có tác dụng cung cấp các nguyên liệu cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp protein để phát triển cơ xương cho cơ thể, đồng thời những chất này còn đóng vai trò là những chất kích thích miễn dịch tự nhiên để cơ thể có khả năng chống lại nhiều loại bệnh, các stress, nhất là những bệnh lạ (cúm, bội nhiễm ...). Chất đường chủ yếu là Olygosaccarid có chức năng vận chuyển quan trọng chiếm 17% và còn có 6% chất béo là những axit béo không no cần thiết như linoleic và linolic. Cũng như Tảo Lục, viên Tảo Lục có chứa nhiều vitamin nhóm B quý giá là những coenzym tham gia quá trình chống viêm, antioxydant có tính tự nhiên. Các vitamin này không những quý giá về chất lượng mà còn giàu về số lượng. Kết quả phân tích về vi chất dinh dưỡng của Tảo Lục cho thấy vitamin A nhiều gấp 6 lần cà-rốt, các vitamin nhóm B nhiều hơn 1,5 lần men bia, riêng vitamin B1 có tỷ lệ rất cao nhiều gấp 35 lần sữa bò tươi. Lượng sắt (Fe+2) dạng tự nhiên rất cần thiết cho trẻ em và phụ nữ có tỷ lệ nhiều gấp 13 lần gan lợn tươi và gấp 45 lần nho chín. Canxi hữu cơ hướng người ta nghĩ đến sữa nhưng Tảo Lục có hàm lượng cao hơn sữa bò tươi tới mức 1,6 lần. Những vi chất dinh dưỡng này được coi là rất cần thiết cho sự phát triển ổn định bền vững ở hầu hết các lứa tuổi. Đặc biệt, một chất không thuộc về chất dinh dưỡng nhưng có vai trò gián tiếp rất quan trọng đối với các chuyển hoá dinh dưỡng, vì vậy nó có giá trị chữa bệnh rất hiệu quả đó là thành phần chất xơ đặc thù của Tảo Lục. Chất xơ của Tảo Lục có kích thước nhỏ hợp lý, có khả năng hấp thụ các chất độc và nhũ hóa các chất béo, kết hợp với chất béo, làm tăng chỉ số HDL (chỉ số lipoprotein tốt) để tăng thải trừ các chất béo và cholesterol, do đó nó giúp một cách có hiệu quả giảm Xơ vữa động mạch, hạ Cholesterol máu và giảm tích cực lượng Lipid máu trong trường hợp các thành phần lipid máu đang ở mức cao, chống Béo phì, điều trị Đái tháo đường và phòng ngừa Ung thư. Đặc biệt viên Tảo Lục vẫn giữ được hầu hết các yếu tố tăng trưởng tự nhiên CGF của nó với hàm lượng đáng kể, các yếu tố này vừa giúp cho cơ thể trẻ phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần vừa giúp cho cơ thể phòng tránh được các bệnh thiếu máu nhược sắc do nó kích thích tạo hem, tạo hồng cầu và các yếu tố miễn dịch, tăng cường khả năng chống đỡ lại các bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm virus, dị ứng thời tiết, giải độc các độc tố vi sinh và độc tố môi trường.

Xu hướng ở các nước phát triển hiện nay là chuộng dùng TPCN hơn dùng thuốc vì tính chất sử dụng đơn giản, có thể phòng bệnh sớm khi chưa thật sự phải cần đến bác sĩ khám, kê đơn, thì TPCN với tính chất có chứa một hệ hợp chất tự nhiên có khả năng đáp ứng rộng lớn hơn, có thể sử dụng thường xuyên để có hiệu quả bền vững, nhất là những nhóm bệnh khó chữa bằng các tân dược. Tuy nhiên, chúng ta phải thừa nhận rằng, những trường hợp chưa có bệnh, chưa thành bệnh hoặc có bệnh mà chưa có thuốc đặc trị thì TPCN như viên Tảo Lục là một cứu cánh. Thực tế cho thấy, y học hiện đại còn bất lực trước nhiều bệnh vì chưa có thuốc đặc trị và vì vậy phải dựa vào các phương pháp không đặc trị khác, trong đó có việc sử dụng TPCN. Chẳng hạn: viên Tảo Lục có khả năng tăng cường sức đề kháng đối với các bệnh hiểm nghèo, ung thư, viêm gan mãn tính, đái tháo đường. Trong nhiều bệnh khó chữa, tinh thần thoải mái và dinh dưỡng hợp lý kết hợp với sử dụng viên Tảo Lục – Quà

tặng từ thiên nhiên nhiều khi lại có tác dụng rất tốt.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Rư
Trường Đại học Dược Hà Nội


 
TẢO LỤC CHLORELLA

Chlorella là một loại rong đặc biệt, còn được gọi tên khoa học là Pyrenoidosa (tên cấu trúc pyrenoid trong Chloroplast) thường sống ở vùng nước ngọt và có hàm lượng chlorophyll cao nhất (đạt 28,9 g/kg) so với bất kỳ thực vật quang hợp nào được biết đến trên trái đất.

 

Chlorella là một loại rong đã xuất hiện cách đây 2,5 tỷ năm và là dạng sống đầu tiên có nhân thật. Các hóa thạch kỷ tiền Cambri đã chỉ ra sự tồn tại của Chlorella thời kỳ bấy giờ. Vì Chlorella là một vi sinh vật nên nó không được biết đến cho đến cuối thế kỷ 19 và tên của nó cũng bắt nguồn từ một từ gốc Hy lạp, chloros có nghĩa là màu xanh và ella có nghĩa là nhỏ bé. Chlorella nằm trong nhóm sinh vật nhân thật của giới sống ở nước ngọt dưới dạng một tế bào riêng lẻ. Kích thước của rong chỉ bằng tế bào hồng cầu người. Dưới những điều kiện sống tối ưu: nhiều ánh sáng, nước trong và không khí sạch Chlorella sinh sản với tốc độ vô cùng lớn. Quá trình sinh sản nói chung được chia thành nhiều bước: Sinh trưởng - trưởng thành - thành thục - phân chia.

 

Mỗi tế bào Chlorella pyrenoidosa có cấu trúc gồm nhân thật, hạt tinh bột, lục lạp và ti thể với vách tế bào chủ yếu là Xellulose. Dưới những tế bào bình thường, một tế bào Chlorella sẽ phân chia thành 4 tế bào con trong thời gian chưa đến 24 giờ. Tuổi thọ của một vòng đời tế bào Chlorella phụ thuộc vào cường độ ánh sáng mặt trời, nhiệt độ và nguồn dinh dưỡng.

 

Chlorella rất giàu protein, vitamin và các khoáng chất. Các protein của loài rong này có chứa tất cả các amino acid cần thiết cho nhu cầu dinh dưỡng của người và động vật. Rất nhiều vitamin có trong thành của Chlorella pyrenoidosa như: Vitamin C, tiền vitamin A (b caroten), riboflavin (B2), pyridoxine (B6), niacin (vitamin PP), axit panthothenic (vitamin B3), axit folic (vitamin B9), vitamin B12, biotin (vitamin H), choline, vitamin K, axit lipoic và inositol. Các nguyên tố khoáng ở Chlorella pyrenoidosa gồm có: Photpho, canxi, Kẽm, iod, Magie, sắt và đồng.

 

Ngoài hàm lượng cao các vitamin, amino axit, peptit, protein, đường và axit nucleic, pyrenoidosa có chứa một chất tan trong nước được gọi là yếu tố sinh trưởng Chlorella (CFG). CFG chiếm khoảng 5 % trọng lượng khô của Chlorella pyrenoidosa, là một hợp chất gồm các amino axit, protein và axit nucleic mà người ta cho rằng nó có nguồn gốc từ nhân của rong.

 

Người ta đã xác định được vai trò hoạt hóa các đại thực bào với số lượng hạn chế có vai trò nhận biết và tiêu diệt các tế bào ung thư, các protein ngoại lai và các hóa chất trong cơ thể con người. Các chế phẩm vách tế bào bị phá vỡ và dịch chiết của Chlorella pyrenoidosa được đưa vào cơ thể bằng cả đường miệng hoặc tiêm giúp tăng trưởng nhanh và giúp vết thương mau lành. Các chế phẩm này kích thích hệ miễn dịch theo một cách mà vật chủ được bảo vệ khỏi sự nhiễm trùng và ung thư.

 

Chlorella pyrenoidosa khi được hấp thụ vào cơ thể còn có tác dụng sau: Tăng cường interferon, làm sạch máu, gan, thận và ruột, kích thích sinh sản tế bào hồng cầu, tăng oxy cho các tế bào và não, trợ tiêu hóa, kích thích quá trình sửa chữa ở các mô; giúp tăng PH máu để đạt trạng thái kiềm hơn; giúp giữ cho trái tim hoạt động bình thường; giúp tăng cường sản phẩm của các khu hệ sinh vật trong đường tiêu hóa. Tất cả mọi người đều dùng được các sản phẩm từ rong này để điều trị các căn bệnh như: mệt mỏi kinh niên (fatigue), áp huyết cao, tim mạch, mất trí nhớ, cholesterol cao, lão hóa da, ngộ độc máu, tuần hoàn máu kém, đau đầu, rối loạn giấc ngủ, sưng và đau khớp, béo phì và các bệnh nhiễm trùng, dị ứng, chấn thương.

 

( Nguồn tài liệu: Rong biển dược liệu Việt Nam trang 18, 19 )

 
<< Bắt đầu < Lùi 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Tiếp theo > Cuối >>

Trang 6 của 9

partner4

Copyright 2008 Hoang Long Pharma. All Rights Reserved - Powered by DHDI Corp